Sa Đéc, Cà Mau, Sóc Trăng, Bến Nghé… mỗi cái tên là một khúc lịch sử. Bấm chấm trên bản đồ để coi tên đó từ đâu mà có.
Hán ViệtNay thuộc An Giang
An Giang là tên chữ Hán Việt, an là yên ổn, giang là sông, ý là vùng sông nước bình yên. Năm 1832 vua Minh Mạng đặt tỉnh An Giang, một trong sáu tỉnh…
Chưa rõNay thuộc TP.HCM
Nhà văn Sơn Nam giải thích chiểu là ao nước thiên nhiên, Bà Chiểu là vị nữ thần được thờ bên ao.
Chưa rõNay thuộc TP.HCM (trước là Bà Rịa - Vũng Tàu)
Có hai cách giải thích. Sách của Ménard năm 1902 nói tên đất lấy theo bà Nguyễn Thị Rịa, người có công khai hoang lập làng cuối thế kỷ 17.
Chưa rõNay thuộc Cà Mau (trước là Bạc Liêu)
Tên tỉnh lấy theo con rạch Bạc Liêu và có nhiều giả thuyết. Cách phổ biến cho là từ tiếng Triều Châu Pô Léo, nghĩa là xóm nghèo làm nghề chài lưới.
Thuần ViệtNay thuộc TP.HCM
Xóm Bàn Cờ xưa là khu dân nghèo, nhà cửa san sát với chừng 52 con hẻm ngang dọc trên khoảng 15 ha, nhìn như một bàn cờ.
Hán ViệtNay thuộc An Giang
Bảy Núi có tên chữ là Thất Sơn, chỉ bảy ngọn núi nổi lên không liền nhau giữa đồng bằng An Giang.
Chưa rõNay thuộc TP.HCM
Có hai cách giải thích. Cách thứ nhất nói Bến Nghé là dịch nghĩa từ tên Khmer Kompong Krabei, kompong là bến, krabei là trâu, nghé.
Thuần ViệtNay thuộc TP.HCM
Theo nhà địa danh học Lê Trung Hoa, đầu thế kỷ 19 chợ nằm sát sông, chỗ có bến đò để vô thành Phiên An (thành Bát Quái), nên gọi là Bến Thành, tức…
Chưa rõNay thuộc Vĩnh Long (trước là Bến Tre)
Xưa người Khmer gọi vùng này là Sóc Treay, nghĩa là xứ cá, vì cá nhiều. Về sau người Việt lập chợ bên con rạch đổ ra sông Hàm Luông và gọi là Bến…
Hán ViệtNay thuộc TP.HCM
Quận Bình Tân lập năm 2003 từ ba xã Bình Hưng Hòa, Bình Trị Đông và Tân Tạo cắt ra từ huyện Bình Chánh, tên ghép lấy chữ Bình và chữ Tân của các xã…
Hán ViệtNay thuộc TP.HCM
Bình Thạnh là tên ghép, lấy chữ đầu của hai xã cũ Bình Hòa và Thạnh Mỹ Tây khi nhập lại sau năm 1975.
Gốc KhmerNay thuộc Cà Mau
Người Khmer gọi vùng này là Tưk Khmau, tưk là nước, khmau là đen. Nước kênh rạch ở đây đen sậm vì lá tràm, lá đước rụng xuống mục ra.
Gốc KhmerNay thuộc Cần Thơ
Có hai cách giải thích. Truyền thuyết kể hồi mới khẩn hoang có con cá sấu lớn dạt vô, răng cắm vô miệng đất này.
Gốc KhmerNay thuộc TP.HCM
Theo Trương Vĩnh Ký, Cần Giờ là cách đọc trại từ tiếng Khmer Kanchoeu, nghĩa là cái giỏ, vì dân ở đây hay đi lại bằng thúng, ghe nhỏ.
Chưa rõNay thuộc Cần Thơ
Có ba cách giải thích. Truyện kể Nguyễn Ánh nghe hát hò trên sông nên đặt tên Cầm Thi Giang, sau đọc trại thành Cần Thơ.
Thuần ViệtNay thuộc TP.HCM
Gần cầu Ông Lãnh xưa có một cây cầu khác, chỗ ghe biển chở muối tới đậu buôn bán, nên dân gọi là Cầu Muối. Tên cầu ở lại thành tên khu chợ.
Tên ngườiNay thuộc TP.HCM
Có hai giả thuyết. Theo Trương Vĩnh Ký, cây cầu gỗ ban đầu do một ông lãnh binh ở gần đó cho làm nên gọi là cầu Ông Lãnh, có người cho đó là lãnh…
Chưa rõNay thuộc An Giang
Gốc tên Châu Đốc tới nay còn bàn cãi. Có người cho là đọc trại từ tiếng Khmer Meàth Chruk, nghĩa là mõm heo.
Thuần ViệtNay thuộc Đồng Tháp (trước là Tiền Giang)
Chợ ở thôn Bình Phan có từ thời Cảnh Hưng. Ở đây có nhà máy xay lúa đầu tiên trong vùng của một gia đình người Hoa bên chân cầu Quay, dân các nơi chở…
Thuần ViệtNay thuộc TP.HCM
Người Hoa tới đây lập một ngôi chợ lớn hơn chợ Tân Kiểng có từ trước, nên dân gọi là Chợ Lớn cho dễ phân biệt, rồi tên chợ thành tên cả vùng.
Thuần ViệtNay thuộc TP.HCM
Vương Hồng Sển ghi trong Sài Gòn năm xưa rằng chợ xưa nhóm dưới mấy gốc me lớn gần nhà thương Chợ Quán, chung quanh có nhiều quán xá tụ lại một chỗ…
Thuần ViệtNay thuộc Cần Thơ
Xưa vùng này có nhiều đồn điền, mỗi đồn điền cắm một màu cờ riêng để làm mốc ranh. Đồn điền ở đây lớn nhất và chọn cờ màu đỏ, nên cả người Việt lẫn…
Thuần ViệtNay thuộc TP.HCM
Củ chi là tên dân gian của cây mã tiền, loài cây gỗ có hạt rất độc, xưa mọc nhiều ở vùng này. Tên cây được lấy đặt cho đất.
Hán ViệtNay thuộc An Giang
Cù lao này còn có tên Dinh Châu, người Khmer gọi Koh Teng. Có nhiều cách giải thích chữ Giêng, nhưng nhiều nhà nghiên cứu hiện nay cho rằng Giêng đọc…
Thuần ViệtNay thuộc Đồng Nai
Cù lao giữa sông Đồng Nai này còn có tên Đông Phố, Giản Phố, Nông Nại Đại Phố. Cuối thế kỷ 17 nhóm người Hoa của Trần Thượng Xuyên tới đây làm ăn…
Gốc PhápNay thuộc TP.HCM
Tên gốc vùng này là Đất Hộ, tức đất do hộ quản lý, hộ là đơn vị hành chánh thời Pháp. Người Pháp viết phiên âm thành Dakao trên sách báo, bản đồ, lâu…
Thuần ViệtNay thuộc Cà Mau
Dân gian gọi đây là xứ đầm lầy có nhiều dơi đậu. Vùng đất xưa là đầm lầy cây cối rậm rạp, rất hợp cho dơi trú.
Thuần ViệtNay thuộc Đồng Nai
Cách hiểu phổ biến: đồng là cánh đồng, nai là con nai, tức vùng đồng có nhiều nai. Gia Định thành thông chí có ghi chợ Lộc Dã, dân gian kêu là chợ…
Thuần ViệtNay thuộc Tây Ninh, Đồng Tháp (trước là Long An, Đồng Tháp)
Đồng là cánh đồng, Tháp Mười là cái tháp thứ mười. Có giả thuyết cho rằng xưa ở đây có cái tháp thứ mười trong một chuỗi đền tháp thời Phù Nam…
Thuần ViệtNay thuộc Đồng Tháp (trước là Tiền Giang)
Theo Hoàng Việt nhất thống dư địa chí của Lê Quang Định, Gò Công ở Định Tường viết chữ Hán là 塸工, nghĩa là cái gò do công sức người đắp nên.
Thuần ViệtNay thuộc Tây Ninh
Giữa thế kỷ 17, lưu dân từ miền Trung dừng chân ở một vùng gò đất có nhiều cây dầu bên sông Vàm Cỏ Đông. Tên Gò Dầu có từ đó.
Thuần ViệtNay thuộc TP.HCM
Gò là chỗ đất cao, vấp là cây vấp, loại cây thân to, gỗ chắc, xưa dân trồng nhiều và lấy làm cột kèo nhà.
Chưa rõNay thuộc An Giang (trước là Kiên Giang)
Có hai cách giải thích. Cách cũ kể xưa có tiên hiện xuống đi lại trên sông nên gọi là Hà Tiên.
Thuần ViệtNay thuộc TP.HCM
Có ý kiến cho rằng tên đúng phải là Hàng Sanh, vì xưa vùng này trồng nhiều cây sanh, loại cây họ dâu tằm.
Hán ViệtNay thuộc Cần Thơ (trước là Hậu Giang)
Hậu Giang là tên Hán Việt của sông Hậu, nhánh sông người Campuchia gọi là Bassac. Tỉnh Hậu Giang lấy tên theo dòng sông này.
Thuần ViệtNay thuộc TP.HCM
Hóc là chỗ rạch nhỏ, chỗ đất khuất sâu vô trong, còn môn là cây môn nước. Hồi khẩn hoang vùng này có nhiều đầm môn nước mọc um tùm nên dân gọi là Hóc…
Hán ViệtNay thuộc Đồng Tháp
Thời Gia Long, nhà Nguyễn lập hai đội binh Hùng Ngự lo giữ biên giới Tây Nam, đóng thủ sở gần rạch Đốc Vàng.
Gốc KhmerNay thuộc Cần Thơ (trước là Sóc Trăng)
Theo Vương Hồng Sển và Đào Văn Hội, Kế Sách đọc trại từ tiếng Khmer khsach, nghĩa là cát, chỉ dải giồng cát cao ráo chạy ngang vùng này.
Gốc KhmerNay thuộc Đồng Tháp
Gia Định thành thông chí ghi sông Lai Vung là tên tục của Cường Oai giang. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Hiếu, Lai Vung gốc từ tiếng Khmer sla…
Thuần ViệtNay thuộc TP.HCM
Đây là chỗ xưa có lăng mộ giám mục người Pháp Bá Đa Lộc, mất năm 1799 và được vua Gia Long cho chôn ở vùng Tân Sơn Nhứt.
Thuần ViệtNay thuộc Đồng Tháp
Theo giai thoại, Nguyễn Ánh dẫn quân chạy tới đây, sợ dấu chân bị quân Tây Sơn lần theo nên khấn trời xóa dấu.
Hán ViệtNay thuộc Đồng Nai
Theo địa bạ Biên Hòa năm 1836, Long Thành viết chữ Hán là 隆成, long là thịnh vượng, thành là nên, làm thành, ý chúc vùng đất làm ăn thịnh đạt.
Gốc KhmerNay thuộc Đồng Tháp (trước là Tiền Giang)
Đa số ý kiến cho rằng Mỹ Tho có gốc Khmer. Tư liệu về người Khmer xưa gọi vùng này là Srock Mỳ Xó, nghĩa là xứ nàng trắng.
Thuần ViệtNay thuộc Cà Mau
Theo giai thoại dân gian, có một người Hoa tên Chệt Hột tới đây dựng năm căn trại đáy bắt cá, làm ăn phát đạt, người tới sau gọi chỗ đó là Năm Căn.
Thuần ViệtNay thuộc Cần Thơ (trước là Hậu Giang)
Sau mấy đợt đào kênh xáng hồi đầu thế kỷ 20, ở đây hình thành bảy ngả sông gặp nhau như kênh Mương Lộ, kênh Xẻo Vông.
Thuần ViệtNay thuộc Cần Thơ (trước là Sóc Trăng)
Tên này có sau khi người Pháp đào kênh Phụng Hiệp đi Cà Mau cắt ngang con rạch Xẻo Chích, tạo thành chỗ năm ngả sông gặp nhau.
Thuần ViệtNay thuộc TP.HCM
Gia Định thành thông chí chép rằng ông Võ Thủ Hoằng ở tổng Tân Chánh bó tre làm bè, dựng nhà trên bè neo giữa sông, sắm đồ nấu nướng cho khách đi ghe…
Hán ViệtNay thuộc Cần Thơ
Bến Ninh Kiều được đặt tên năm 1958 theo đề nghị của chánh quyền tỉnh lúc đó, lấy tên trận Ninh Kiều năm 1426, khi nghĩa quân Lam Sơn chặt cầu Ninh…
Chưa rõNay thuộc Tây Ninh
Theo Gia Định thành thông chí, tên gốc của núi là Bà Dinh, các cụ địa phương thì nói tên gốc là núi Một.
Thuần ViệtNay thuộc An Giang
Có nhiều giả thuyết. Một thuyết nói Nguyễn Ánh từng trốn quân Tây Sơn trên núi, cận thần đồn có thú dữ, yêu quái để cấm dân lên.
Thuần ViệtNay thuộc An Giang
Tên chữ là Ngọc Lãnh Sơn. Có hai cách giải thích tên Núi Sam: một là núi có hình con sam, đầu quay về phía Tịnh Biên; hai là xưa kia chung quanh núi…
Hán ViệtNay thuộc Cần Thơ
Phong Điền nghĩa là vùng ruộng đất trù phú. Đây cũng là tên huyện Phong Điền ở Thừa Thiên, quê của hai dòng họ Lê và Trần vô đây khai khẩn thời…
Hán ViệtNay thuộc TP.HCM
Phú Nhuận là tên thôn có từ thời Nguyễn Hữu Cảnh lập phủ Gia Định năm 1698. Chữ Hán viết là 富潤, gói ước muốn làm ăn giàu có, sung túc của lớp lưu dân…
Thuần ViệtNay thuộc An Giang (trước là Kiên Giang)
Các nhà nghiên cứu truy tên này về một ngôi làng nhỏ bên con rạch mà hai bờ mọc rất nhiều cây giá, loại cây ngập mặn có mủ.
Gốc KhmerNay thuộc Đồng Tháp
Tên gốc là Phsar Dek trong tiếng Khmer. Nhiều người giải nghĩa là chợ sắt, nhưng Sơn Nam và nhiều nhà nghiên cứu khác không chắc lắm với cách giải…
Chưa rõNay thuộc TP.HCM
Tên Sài Gòn có mặt trong sử Việt từ thời Lê Quý Đôn, chép bằng chữ Hán là Sài Côn. Có mấy cách giải thích.
Gốc KhmerNay thuộc Cần Thơ (trước là Sóc Trăng)
Tên đất từ tiếng Khmer Srok Khleang, srok là xứ, khleang là kho, vựa, ý là xứ có kho chứa bạc của nhà vua.
Gốc KhmerNay thuộc Vĩnh Long (trước là Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh)
Người Khmer gọi khúc sông này là Koh Chin. Khi Nguyễn Hữu Cảnh vô kinh lý, triều Nguyễn ghi theo âm Hán Việt là Cổ Chiên giang, cửa sông là Cổ Chiên…
Hán ViệtNay thuộc Vĩnh Long (trước là Bến Tre)
Tên gốc của sông là Hàm Long. Thời nhà Nguyễn phải kiêng chữ Long vì long là rồng, tượng trưng cho vua, nên đọc trại thành Luông, lâu ngày thành quen.
Tên ngườiNay thuộc Cà Mau
Thế kỷ 18 sông có tên Khoa Giang. Năm 1783 Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn đuổi tới đây, đô đốc thủy binh Nguyễn Văn Vàng xin mặc áo vua ở lại đánh lạc…
Hán ViệtNay thuộc TP.HCM
Năm 1698 Nguyễn Hữu Cảnh đặt huyện Tân Bình thuộc phủ Gia Định. Theo Nguyễn Đình Tư, chữ Bình lấy từ Quảng Bình, quê của nhiều lưu dân, để người đi…
Hán ViệtNay thuộc Tây Ninh
Xưa người Khmer gọi vùng này là Rom Dumray, nghĩa là chuồng voi, vì rừng rậm nhiều thú lớn. Tên Tây Ninh là tên chữ Hán Việt, tây là phía tây, ninh…
Tên ngườiNay thuộc TP.HCM
Thị Nghè là tên dân gian của bà Nguyễn Thị Khánh, con gái quan khâm sai Nguyễn Cửu Vân. Chồng bà làm thư ký nên người đương thời kêu là Bà Nghè.
Tên ngườiNay thuộc An Giang
Núi Sập có tên chữ là Thoại Sơn. Năm 1818, sau khi Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại đào xong đường sông, vua Gia Long ban tên núi là Thoại Sơn để ghi…
Thuần ViệtNay thuộc TP.HCM (trước là Bình Dương)
Phần đông tác giả cho rằng đây là tên Việt: thủ là đồn canh giữ, Dầu Một là tên đất ghép từ cây dầu và số đếm.
Tên ngườiNay thuộc TP.HCM
Có hai cách kể. Một cách nói tên đất lấy từ tên hiệu Thủ Đức của ông Tạ Dương Minh, người Hoa có công khai khẩn vùng này hồi cuối thế kỷ 17.
Chưa rõNay thuộc TP.HCM
Tên này có từ cuối thế kỷ 18. Thủ là đồn canh, chỗ triều đình đặt quân giữ việc qua lại trên sông Sài Gòn.
Gốc KhmerNay thuộc Vĩnh Long (trước là Trà Vinh)
Có hai cách giải thích. Tiếng Khmer gọi vùng này là Kânhchaông, nghĩa là cái bành voi của vua quan.
Gốc KhmerNay thuộc Vĩnh Long (trước là Trà Vinh)
Xưa vùng này gọi là Trà Vang. Wikipedia tiếng Anh ghi tên Trà Vinh đến từ tên Khmer của vùng là Preah Trapeang.
Thuần ViệtNay thuộc Tây Ninh
Trảng là khoảng đất trũng, bằng phẳng, ít cây lớn, chỉ có cỏ và cây bụi. Bàng là loại cỏ thân mềm gần giống cây cói, mọc nhiều trên mấy trảng ngập…
Hán ViệtNay thuộc Vĩnh Long
Vĩnh Long viết chữ Hán là 永隆, vĩnh là mãi mãi, long là thịnh vượng, ý mong vùng đất giàu có muôn đời.
Chưa rõNay thuộc Vĩnh Long
Tên này có ít nhất từ đầu thế kỷ 19, viết chữ Hán là 泳濂. Có ý kiến cho liêm là gỗ lim, nhưng chữ liêm này thuộc bộ thủy nên khó đúng.
Thuần ViệtNay thuộc TP.HCM (trước là Bà Rịa - Vũng Tàu)
Đại Nam nhất thống chí chép ở đây có cái vũng lớn gọi là Vũng Tàu, chỗ cho tàu thuyền ghé đậu nghỉ, tránh sóng gió.
Gốc KhmerNay thuộc Cần Thơ (trước là Hậu Giang, Cần Thơ)
Kênh xáng Xà No dài chừng 39 km, đổ ra sông Cần Thơ. Tên Xà No đọc trại từ tiếng Khmer Srak No, nghĩa là xóm có cây điên điển.