Bỏ qua tới nội dung

Lịch sử Nam Kỳ

Trận thành Gia Định năm 1859, tranh của Antoine Morel-Fatio
Trận thành Gia Định năm 1859, tranh của Antoine Morel-Fatio · Nguồn: phạm vi công cộng, Wikimedia Commons

Xếp theo năm. Mốc nào cũng phải ghi nguồn mới được đăng. Thấy chỗ nào sai thì bấm vô bài rồi báo sai giúp ban biên tập.

1620

Công nữ Ngọc Vạn làm hoàng hậu Chân Lạp

Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái là công nữ Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp Chey Chettha II. Cuộc hôn nhân này giúp quan hệ giữa Đàng Trong với Chân Lạp êm thấm, chúa Nguyễn có thêm chỗ dựa khi đang đối đầu với họ Trịnh ở phía Bắc. Nhờ mối quan hệ đó, lưu dân Việt bắt đầu vô làm ăn ở vùng Mô Xoài, Đ…
Nguồn: Báo Dân Việt, "Hành trình công nữ Ngọc Vạn trở thành vương hậu nước Chân Lạp", https://danviet.vn/hanh-trinh-cong-nu-ngoc-van-tro-thanh-vuong-hau-nuoc-chan-lap-7777802364-d550357.html
1623

Chúa Nguyễn lập trạm thu thuế ở Prey Nokor

Theo thỏa thuận với vua Chân Lạp Chey Chettha II (chồng công nữ Ngọc Vạn), chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên được đặt trạm thu thuế ở Prey Nokor và Kas Krobei, vùng đất sau này là Sài Gòn – Bến Nghé. Lưu dân Việt bắt đầu vô làm ăn đông hơn từ đây.
Nguồn: Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng (chủ biên), Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, tập 1 (1987)
1679

Người Minh hương vô khai phá Mỹ Tho, Biên Hòa

Tướng nhà Minh là Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên dẫn hơn 3.000 người và 50 chiếc thuyền xin tị nạn. Chúa Nguyễn Phúc Tần cho nhóm Dương Ngạn Địch vô Mỹ Tho, nhóm Trần Thượng Xuyên vô Biên Hòa. Cù lao Phố ở Biên Hòa và Mỹ Tho đại phố thành hai thương cảng sầm uất nhứt phương Nam thời đó.
Nguồn: Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí; Đại Nam thực lục tiền biên
1698

Nguyễn Hữu Cảnh kinh lược, lập phủ Gia Định

Chúa Nguyễn Phúc Chu sai Chưởng cơ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh vô kinh lược đất Đồng Nai. Ông lấy xứ Đồng Nai lập huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên; lấy xứ Sài Gòn lập huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn; hai huyện hợp thành phủ Gia Định. Ông cho chiêu mộ lưu dân từ miền Thuận Quảng vô khai kh…
Nguồn: Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tiền biên, quyển 7; Nguyễn Ngọc Phúc, "Tổ chức bộ máy quản lý hành chính Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XIX", Khoa Lịch sử ĐH KHXH&NV TP.HCM, https://his.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/nguyen-viet-hoang/to-chuc-bo-may-quan-ly-hanh-chinh-nam-bo-nua-dau-the-ky-xix-tu-gia-dinh-thanh-den-nam-ky-luc-tinh-ths-nguyen-ngoc-phuc-5819.html
1700

Nguyễn Hữu Cảnh mất ở Rạch Gầm

Đầu năm 1700, Nguyễn Hữu Cảnh dẫn quân sang Chân Lạp, đánh tới Nam Vang (Phnom Penh). Trên đường kéo quân về, ông bịnh rồi mất ở Rạch Gầm, vùng Mỹ Tho, lúc chừng năm mươi tuổi. Linh cữu được đưa về quê ở Quảng Bình an táng. Người Nam Bộ lập đền, đình thờ ông ở nhiều nơi, như đình Bình Kính ở Cù lao…
Nguồn: Wikipedia tiếng Anh, "Nguyễn Hữu Cảnh", https://en.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_H%E1%BB%AFu_C%E1%BA%A3nh; Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tiền biên, quyển 7
1708

Mạc Cửu đem đất Hà Tiên về với chúa Nguyễn

Mạc Cửu, người Lôi Châu (Quảng Đông), khai phá vùng Mang Khảm, lập ra Hà Tiên, rồi xin thần phục chúa Nguyễn Phúc Chu. Chúa phong ông làm Tổng binh trấn Hà Tiên. Con ông là Mạc Thiên Tứ sau này lập Chiêu Anh Các, làm Hà Tiên thành trung tâm văn chương của miền Nam.
Nguồn: Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí; Đại Nam thực lục tiền biên
1732

Lập dinh Long Hồ

Chúa Nguyễn Phúc Chú lập châu Định Viễn và dinh Long Hồ ở vùng Vĩnh Long ngày nay, mở rộng cai quản xuống vùng giữa sông Tiền và sông Hậu.
Nguồn: Đại Nam thực lục tiền biên; Đại Nam nhất thống chí
1757

Nguyễn Cư Trinh lập ba đạo Đông Khẩu, Tân Châu, Châu Đốc

Sau khi vua Chân Lạp Nặc Tôn dâng đất Tầm Phong Long, Nguyễn Cư Trinh lập đạo Đông Khẩu (Sa Đéc), Tân Châu (Tiền Giang) và Châu Đốc (Hậu Giang). Tới đây, đất Nam Kỳ cơ bản đã thành hình như sau này.
Nguồn: Đại Nam thực lục tiền biên; Đại Nam nhất thống chí
1772

Nguyễn Cửu Đàm đào kênh Ruột Ngựa

Mùa thu năm 1772, Điều khiển Nguyễn Cửu Đàm cho đào một con kênh thẳng băng nối rạch Bến Nghé (khúc nay là kênh Tàu Hũ) với rạch Cát, dài chừng ba cây số. Vì kênh thẳng như ruột con ngựa nên dân gọi là kênh Ruột Ngựa. Đây là đường thủy đầu tiên nối vùng Chợ Lớn với miền Tây, ghe thuyền chở lúa gạo,…
Nguồn: Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí (1820); Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam, "Lịch sử kinh rạch ở Sài Gòn – Chợ Lớn", https://vusta.vn/lich-su-kinh-rach-o-sai-gon-cho-lon-p76563.html
1777

Tây Sơn đánh chiếm Gia Định

Nhà Tây Sơn tiến vô Gia Định, chúa Nguyễn Phúc Thuần bị bắt và giết ở Long Xuyên. Nguyễn Ánh chạy thoát, mở đầu gần 25 năm giằng co giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn trên đất phương Nam.
Nguồn: Đại Nam thực lục; Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược (1920)
1778

Người Hoa lập phố chợ Chợ Lớn

Sau khi Cù lao Phố ở Biên Hòa bị tàn phá trong chiến sự giữa quân Tây Sơn và chúa Nguyễn, nhiều thương nhân người Hoa ở Cù lao Phố và Mỹ Tho dời về vùng đất phía tây Sài Gòn, lập khu phố chợ mới vào khoảng năm 1778. Khu này dần lớn mạnh thành trung tâm buôn bán lúa gạo và hàng hóa lớn nhứt miền Nam,…
Nguồn: Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí (1820); Nguyễn Đức Hiệp, "Chợ Lớn: lịch sử, địa lý, kinh tế và văn hóa", Diễn Đàn Forum, https://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/nguyen-duc-hiep-cho-lon-1
1785

Trận Rạch Gầm – Xoài Mút

Ngày 20 tháng 1 năm 1785, Nguyễn Huệ đem quân Tây Sơn phục kích quân Xiêm trên đoạn sông Tiền từ vàm Rạch Gầm tới Xoài Mút (trước năm 2025 thuộc Tiền Giang, nay thuộc Đồng Tháp). Quân Xiêm do Nguyễn Ánh cầu viện vô, hơn năm vạn quân với khoảng 300 chiến thuyền, bị đánh tan, thủy quân Xiêm gần như bị…
Nguồn: Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tiền biên; Hà Hương, "Âm vang Chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút", báo Đại biểu Nhân dân, 07/01/2025, https://daibieunhandan.vn/am-vang-chien-thang-rach-gam-xoai-mut-10356550.html; Wikipedia tiếng Anh, "Battle of Rạch Gầm-Xoài Mút".
1788

Nguyễn Ánh lấy lại Gia Định

Ngày 7 tháng 9 năm 1788, Nguyễn Ánh từ Xiêm về, đánh lấy lại thành Gia Định từ tay Tây Sơn. Từ đó Gia Định thành căn cứ của Nguyễn Ánh trong cuộc chiến với Tây Sơn. Năm 1790 ông cho xây thành Bát Quái, tới năm 1802 thì lên ngôi, lập ra nhà Nguyễn.
Nguồn: Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên; Wikipedia tiếng Anh, "Citadel of Saigon".
1790

Xây thành Gia Định (thành Bát Quái)

Nguyễn Ánh cho xây thành Gia Định hình bát giác, có sự góp sức của mấy kỹ sư người Pháp theo kiểu thành Vauban. Thành nằm ở khu vực quận 1 ngày nay.
Nguồn: Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí
1802

Nguyễn Ánh lên ngôi, lập nhà Nguyễn

Nguyễn Ánh lên ngôi lấy niên hiệu Gia Long, thống nhất đất nước. Đất Gia Định là nơi khởi nghiệp của ông nên được ưu đãi, do Tổng trấn Gia Định thành cai quản từ 1808.
Nguồn: Đại Nam thực lục chính biên
1812

Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn Gia Định thành

Năm 1812, vua Gia Long cử Tả quân Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn Gia Định thành, cai quản cả vùng đất phương Nam. Ông giữ chức này hai lần: lần đầu từ 1812 tới khoảng 1815–1816, lần sau từ 1820 tới khi mất năm 1832. Thời ông làm Tổng trấn, Gia Định yên ổn trật tự, việc buôn bán với người nước ngoài được…
Nguồn: Báo Thanh Niên, "Tổng trấn quyền lực nhất trong lịch sử nhà Nguyễn", https://thanhnien.vn/tong-tran-quyen-luc-nhat-trong-lich-su-nha-nguyen-185251027233047685.htm; Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam chính biên liệt truyện
1819

Đào kênh Vĩnh Tế

Thoại Ngọc Hầu chỉ huy đào kênh Vĩnh Tế nối Châu Đốc với Hà Tiên, dài chừng 87 km, làm từ 1819 tới 1824 với hàng chục ngàn dân binh người Việt và người Khmer. Kênh mang tên vợ ông là bà Châu Thị Tế.
Nguồn: Đại Nam nhất thống chí; bia Vĩnh Tế Sơn (1828)
1819

Đào lại kênh Bảo Định và kênh An Thông

Năm 1819, vua Gia Long cho vét sâu, mở rộng con kênh nối sông Vũng Gù (Tân An) với sông Mỹ Tho và đặt tên là Bảo Định hà. Kênh này vốn được đào lần đầu năm 1705, được xem là con kênh đào bằng sức người đầu tiên ở miền Tây. Cũng mùa xuân năm đó, Phó Tổng trấn Huỳnh Công Lý huy động hơn một vạn dân ph…
Nguồn: Báo Tuổi Trẻ, "Bảo Định hà, kênh đào đầu tiên ở đất phương Nam", https://tuoitre.vn/bao-dinh-ha-kenh-dao-dau-tien-o-dat-phuong-nam-ky-1-xuoi-dong-bao-dinh-20220711093546684.htm; Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam, "Lịch sử kinh rạch ở Sài Gòn – Chợ Lớn", https://vusta.vn/lich-su-kinh-rach-o-sai-gon-cho-lon-p76563.html
1820

Trịnh Hoài Đức dâng Gia Định thông chí

Tháng 5 năm 1820, khi vua Minh Mạng xuống chiếu tìm sách vở xưa, Thượng thư Trịnh Hoài Đức dâng bộ Gia Định thông chí. Sách chép về địa lý, khí hậu, phong tục, sản vật, thành trì của năm trấn thuộc Gia Định thành, là nguồn tư liệu quý nhứt về Nam Bộ đầu thế kỷ 19. Trịnh Hoài Đức cùng Lê Quang Định v…
Nguồn: Báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần, "Gia Định thông chí – Nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ", https://cuoituan.tuoitre.vn/gia-dinh-thong-chi-nhieu-van-de-con-bo-ngo-1490934.htm; Báo Thanh Niên, "Gia Định tam gia là ai", https://thanhnien.vn/gia-dinh-tam-gia-la-ai-va-co-cong-trang-gi-voi-vuong-trieu-nguyen-1851059627.htm
1832

Bỏ Gia Định thành, lập Nam Kỳ lục tỉnh

Tháng 10 năm 1832, chừng ba tháng sau khi Tổng trấn Lê Văn Duyệt mất, vua Minh Mạng bãi bỏ Gia Định thành, chia vùng đất phương Nam thành sáu tỉnh: Phiên An (sau đổi là Gia Định), Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Mỗi tỉnh đặt quan Tổng đốc hoặc Tuần phủ, Bố chánh, Án sát như các…
Nguồn: Nguyễn Ngọc Phúc, "Tổ chức bộ máy quản lý hành chính Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XIX: Từ Gia Định Thành đến Nam Kỳ lục tỉnh", Khoa Lịch sử ĐH KHXH&NV TP.HCM, https://his.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/nguyen-viet-hoang/to-chuc-bo-may-quan-ly-hanh-chinh-nam-bo-nua-dau-the-ky-xix-tu-gia-dinh-thanh-den-nam-ky-luc-tinh-ths-nguyen-ngoc-phuc-5819.html
1833

Biến Lê Văn Khôi ở thành Phiên An

Lê Văn Khôi, con nuôi Tả quân Lê Văn Duyệt, nổi dậy chiếm thành Phiên An (Gia Định), chống lại vua Minh Mạng. Quân triều đình vây thành tới 1835 mới hạ được. Sau đó thành bị phá bỏ, xây lại thành Phụng nhỏ hơn.
Nguồn: Đại Nam thực lục chính biên; Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược
1836

Đo đạc lập địa bạ toàn Nam Kỳ

Vua Minh Mạng sai đo đạc ruộng đất, lập địa bạ cho từng làng ở sáu tỉnh Nam Kỳ. Bộ địa bạ này nay là nguồn quý để biết tên làng, ruộng đất miền Nam đầu thế kỷ 19.
Nguồn: Nguyễn Đình Đầu, bộ Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn (các tỉnh Nam Kỳ, thập niên 1990)
1859

Pháp đánh chiếm thành Gia Định

Ngày 17/2/1859, liên quân Pháp – Tây Ban Nha đánh chiếm thành Gia Định. Mở đầu gần một thế kỷ Pháp cai trị Nam Kỳ.
Nguồn: Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược; Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong
1860

Sài Gòn mở cửa buôn bán với tàu nước ngoài

Ngày 22 tháng 2 năm 1860, sau khi chiếm thành Gia Định, Pháp mở cảng Sài Gòn cho tàu thuyền ra vô buôn bán. Từ đây Sài Gòn lớn dần thành thương cảng, lúa gạo miền Tây theo đường sông đổ về Chợ Lớn, Sài Gòn để xuất đi.
Nguồn: Tim Doling, "A Short History of Saigon Port", Historic Vietnam, 11/03/2018, https://www.historicvietnam.com/2018/03/; Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng (chủ biên), Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, tập 1 (1987).
1861

Nguyễn Trung Trực đốt tàu Espérance

Ngày 10/12/1861, Nguyễn Trung Trực cùng nghĩa quân đốt chiếc tàu Espérance của Pháp trên vàm Nhựt Tảo (Long An ngày nay). Dân gian còn truyền câu: Hỏa hồng Nhựt Tảo oanh thiên địa.
Nguồn: Huỳnh Mẫn Đạt, câu thơ được truyền tụng; Sơn Nam, Lịch sử khẩn hoang miền Nam
1861

Đại đồn Chí Hòa thất thủ

Ngày 24 và 25 tháng 2 năm 1861, liên quân Pháp – Tây Ban Nha tấn công đại đồn Chí Hòa (còn gọi Kỳ Hòa) do Nguyễn Tri Phương chỉ huy. Đồn thất thủ, Nguyễn Tri Phương bị thương, tham tán Phạm Thế Hiển mất mấy ngày sau. Tháng 4 năm 1861 Pháp chiếm Mỹ Tho (Định Tường), đầu năm 1862 chiếm tiếp Biên Hòa, Vĩnh Long.
Nguồn: Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược; Wikipedia tiếng Anh, "Battle of Kỳ Hòa".
1862

Hòa ước Nhâm Tuất, mất ba tỉnh miền Đông

Ngày 5/6/1862, triều Huế ký hòa ước nhường cho Pháp ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường. Trương Định không chịu bãi binh theo lệnh triều đình, ở lại cùng dân Gò Công chống Pháp tới năm 1864.
Nguồn: Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược
1864

Trương Định mất ở Gò Công

Sau Hòa ước Nhâm Tuất 1862, triều đình Huế lệnh cho Trương Định giải binh và nhận chức Lãnh binh An Giang, nhưng ông ở lại Gò Công tiếp tục chống Pháp. Nghĩa quân tôn ông làm Bình Tây đại nguyên soái. Rạng sáng ngày 20 tháng 8 năm 1864, do Huỳnh Công Tấn, người từng theo ông rồi về với Pháp, dẫn quâ…
Nguồn: Báo Quân đội Nhân dân, "Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định", https://sknc.qdnd.vn/chuyen-xua-nay/binh-tay-dai-nguyen-soai-truong-dinh-502948; Wikipedia tiếng Anh, "Trương Định", https://en.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%C6%A1ng_%C4%90%E1%BB%8Bnh
1865

Gia Định báo ra số đầu

Ngày 15/4/1865, Gia Định báo ra số đầu ở Sài Gòn, tờ báo in chữ quốc ngữ đầu tiên. Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của có công lớn với tờ báo, góp phần đưa chữ quốc ngữ đi rộng khắp Nam Kỳ.
Nguồn: Huỳnh Văn Tòng, Lịch sử báo chí Việt Nam từ khởi thủy đến 1930 (1973)
1866

Căn cứ Đồng Tháp Mười của Võ Duy Dương thất thủ

Võ Duy Dương, thường gọi là Thiên hộ Dương, cùng Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều lập căn cứ ở Gò Tháp giữa vùng Đồng Tháp Mười từ cuối năm 1864. Tháng 4 năm 1866, quân Pháp chia ba mũi tấn công căn cứ; sau chừng mười ngày giao tranh, trong đó có trận đồn Tả ngày 16 tháng 4, nghĩa quân phải rút. Đốc binh Ki…
Nguồn: Báo Người Lao Động, "Những người giữ đất: Võ Duy Dương và căn cứ Đồng Tháp Mười", https://nld.com.vn/nguoi-viet-yeu-su-viet/nhung-nguoi-giu-dat-vo-duy-duong-va-can-cu-dong-thap-muoi-20230408201307145.htm
1867

Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây

Tháng 6/1867, Pháp chiếm luôn Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Kinh lược sứ Phan Thanh Giản không giữ được thành, uống thuốc độc tự vẫn. Toàn bộ Nam Kỳ lục tỉnh thành thuộc địa Pháp.
Nguồn: Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược; Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong
1868

Nguyễn Trung Trực đánh đồn Kiên Giang

Ngày 16/6/1868, Nguyễn Trung Trực đánh úp đồn Pháp ở Kiên Giang (Rạch Giá). Ông bị bắt rồi bị xử chém tại Rạch Giá cuối năm đó. Trước khi chết ông để lại câu: Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây.
Nguồn: Sơn Nam, Lịch sử khẩn hoang miền Nam
1874

Hòa ước Giáp Tuất, Nam Kỳ thành thuộc địa Pháp

Ngày 15 tháng 3 năm 1874, Nguyễn Văn Tường thay mặt triều Nguyễn và Philastre thay mặt Pháp ký Hòa ước Giáp Tuất ở Sài Gòn. Triều Nguyễn nhường hẳn ba tỉnh miền Tây là Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên mà Pháp đã chiếm từ năm 1867. Từ đây cả sáu tỉnh Nam Kỳ là thuộc địa Pháp, triều đình Huế hết hy vọng chuộc lại.
Nguồn: Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược; Nguyễn Đình Cơ, "Về cuộc đàm phán giữa Đại Nam và Pháp năm Giáp Tuất (1874) - đôi điều nhìn lại", Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 3 (599), 2026; Wikipedia tiếng Anh, "Treaty of Saigon (1874)".
1875

Thành lập Ngân hàng Đông Dương

Ngày 21 tháng 1 năm 1875, Ngân hàng Đông Dương (Banque de l'Indochine) được lập ở Paris theo sắc lệnh của Tổng thống Pháp, tiếp quản chi nhánh Sài Gòn của ngân hàng Comptoir d'Escompte de Paris có từ năm 1864. Ngân hàng được độc quyền phát hành giấy bạc, ban đầu bằng đồng franc, từ năm 1885 là đồng…
Nguồn: Wikipedia tiếng Anh, "Banque de l'Indochine", https://en.wikipedia.org/wiki/Banque_de_l%27Indochine; Crédit Agricole Indosuez, "Founding of Banque de l'Indochine", https://ca-indosuez.com/group/en/group-profile/our-story/our-heritage/founding-of-banque-de-l-indochine
1875

Thủ khoa Huân bị xử tử ở Chợ Gạo

Nguyễn Hữu Huân, người làng Tịnh Hà (Tiền Giang ngày nay), đỗ thủ khoa kỳ thi Hương năm 1852 nên dân gọi là Thủ khoa Huân. Từ năm 1861 tới 1875, ông ba lần dấy binh chống Pháp ở vùng Tân An, Mỹ Tho. Ngày 15 tháng 5 năm 1875 ông bị bắt, ngày 19 tháng 5 bị xử chém ở vàm Giáp Nước, làng Mỹ Tịnh An (Chợ…
Nguồn: Báo Cần Thơ, "Thủ Khoa Huân – Dấu ấn thời kháng Pháp cận cuối thế kỷ 19", https://baocantho.com.vn/thu-khoa-huan-dau-an-thoi-khang-phap-can-cuoi-the-ky-19-a20775.html
1877

Khởi công Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn

Ngày 7 tháng 10 năm 1877, Giám mục Isidore Colombert đặt viên đá đầu tiên xây nhà thờ chánh tòa Sài Gòn theo thiết kế của kiến trúc sư J. Bourard, pha trộn lối Roman và Gothic. Gạch đỏ, ngói và nhiều vật liệu được chở từ Pháp qua. Ngày 11 tháng 4 năm 1880, nhằm lễ Phục Sinh, nhà thờ được làm phép và…
Nguồn: Tổng Giáo phận Sài Gòn, "Ngày 09/12: Cung hiến Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn", https://tgpsaigon.net/bai-viet/ngay-09-12-cung-hien-nha-tho-duc-ba-sai-gon-50510
1885

Khánh thành đường xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho

Đường xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho khởi công giữa năm 1881 và chính thức chạy ngày 20 tháng 7 năm 1885. Tuyến dài 71 cây số với 15 ga, từ ga Sài Gòn đi qua Chợ Lớn, Phú Lâm, Bình Chánh, Bến Lức, Tân An, Trung Lương rồi tới Mỹ Tho. Đây là tuyến đường sắt đầu tiên ở cả Đông Dương. Lúc đầu xe lửa phải qua s…
Nguồn: Báo Thanh Niên, "Sài Gòn – Mỹ Tho, tuyến xe lửa đầu tiên ở Đông Dương", https://thanhnien.vn/sai-gon-my-tho-tuyen-xe-lua-dau-tien-o-dong-duong-185240303203000906.htm
1886

Xây Bưu điện Sài Gòn

Tòa nhà Bưu điện Sài Gòn bên cạnh Nhà thờ Đức Bà được xây từ năm 1886 tới năm 1891, do kiến trúc sư Alfred Foulhoux thiết kế (có tài liệu ghi thêm Auguste Henri Vildieu). Nhiều người lầm tưởng công trình do Gustave Eiffel làm, nhưng không có căn cứ. Mặt tiền trang trí công phu, bên trong là sảnh lớn…
Nguồn: Wikipedia tiếng Anh, "Saigon Central Post Office", https://en.wikipedia.org/wiki/Saigon_Central_Post_Office
1887

Truyện thầy Lazarô Phiền ra đời

Năm 1887, Nguyễn Trọng Quản cho in ở Sài Gòn cuốn Truyện thầy Lazarô Phiền, viết bằng chữ quốc ngữ theo lối văn xuôi. Truyện kể về một người đàn ông vì nghi ngờ, ghen tuông mà gây ra bi kịch trong gia đình, rồi sống trong ân hận. Nhiều nhà nghiên cứu xem đây là cuốn tiểu thuyết văn xuôi quốc ngữ đầu…
Nguồn: Tạp chí Khoa học ĐH Sư phạm TP.HCM, "An inaccuracy in Vietnamese literary history: Identifying the true discoverer of Nguyen Trong Quan's Thay Lazaro Phien", https://journal.hcmue.edu.vn/index.php/hcmuejos/article/view/4661
1888

Nguyễn Đình Chiểu mất ở Ba Tri

Nguyễn Đình Chiểu sinh năm 1822 ở Gia Định, bị mù từ khoảng năm 1846, về sau dạy học, bốc thuốc. Truyện thơ Lục Vân Tiên ông viết từ khoảng năm 1851, được người Nam Bộ thuộc lòng, nói thơ, hát kể khắp xóm làng và được chép, in nhiều lần. Khi Pháp đánh Gia Định năm 1859, ông về Cần Giuộc rồi Ba Tri (…
Nguồn: Wikipedia tiếng Anh, "Nguyễn Đình Chiểu", https://en.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_%C4%90%C3%ACnh_Chi%E1%BB%83u
1895

Huỳnh Tịnh Của ra Đại Nam quấc âm tự vị

Bộ từ điển tiếng Việt viết bằng chữ quốc ngữ do người Việt soạn, in ở Sài Gòn năm 1895 và 1896, gồm hai tập. Sách ghi lại rất nhiều từ ngữ Nam Kỳ thời đó, nay là nguồn chính để tra tiếng Nam xưa.
Nguồn: Huỳnh Tịnh Của, Đại Nam quấc âm tự vị, Sài Gòn: Imprimerie Rey, Curiol & Cie (1895–1896)
1900

Khánh thành Nhà hát Tây Sài Gòn

Nhà hát lớn Sài Gòn khởi công năm 1898, khánh thành và đưa vô sử dụng năm 1900. Người Sài Gòn xưa quen kêu là Nhà hát Tây. Nay là Nhà hát Thành phố trên đường Đồng Khởi.
Nguồn: "Những công trình kiến trúc trường tồn với thời gian", báo Sài Gòn Giải Phóng, 31/01/2025, https://www.sggp.org.vn/nhung-cong-trinh-kien-truc-truong-ton-voi-thoi-gian-post778899.html; Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng (chủ biên), Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, tập 1 (1987).
1901

Đào kênh xáng Xà No

Từ năm 1901 tới tháng 7 năm 1903, chính quyền Nam Kỳ cho dùng xáng múc (máy đào chạy hơi nước) đào kênh Xà No, nối sông Cần Thơ với sông Cái Lớn đổ ra biển Tây, dài hơn bốn chục cây số. Kênh mở ra đường thủy thẳng từ Cần Thơ qua Rạch Giá, đồng thời mở đường cho người ta vô khai hoang vùng đất trũng…
Nguồn: Báo VnExpress, "Kênh Xà No – từ đồng hoang đến con đường lúa gạo miền Tây", https://vnexpress.net/kenh-xa-no-tu-dong-hoang-den-con-duong-lua-gao-mien-tay-4447541.html
1912

Hồ Biểu Chánh viết tiểu thuyết Ai làm được

Hồ Biểu Chánh (1885–1958), tên thật Hồ Văn Trung, người Gò Công, vừa làm công chức vừa viết văn. Sau truyện thơ U tình lục (1909), khoảng năm 1912 khi làm việc ở Cà Mau, ông viết cuốn tiểu thuyết văn xuôi đầu tay Ai làm được. Suốt gần năm chục năm, ông viết hơn sáu chục cuốn tiểu thuyết bằng lời văn…
Nguồn: Báo Thanh Niên, "Hồ Biểu Chánh và nửa thế kỷ đam mê tiểu thuyết", https://thanhnien.vn/ho-bieu-chanh-va-nua-the-ky-dam-me-tieu-thuyet-185250630234321164.htm
1914

Khánh thành chợ Bến Thành mới

Chợ Bến Thành cũ nằm gần bờ sông Sài Gòn, bị cháy năm 1870 rồi được dựng lại. Năm 1912, chính quyền Sài Gòn cho xây chợ mới trên khu đất từng là đầm lầy Bồ Rệt, do hãng Brossard et Maupin thầu xây dựng. Tháng 3 năm 1914 chợ mới khánh thành, với cửa chính có tháp đồng hồ quay ra bùng binh trước chợ.…
Nguồn: Wikipedia tiếng Anh, "Bến Thành Market", https://en.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%BFn_Th%C3%A0nh_Market; Báo Znews, "Điều ít biết về đầm Bồ Rệt", https://znews.vn/dieu-it-biet-ve-dam-bo-ret-manh-dat-xay-cho-trung-tam-ben-thanh-xua-post1450492.html
1918

Cải lương ra đời

Từ lối đờn ca tài tử và ca ra bộ ở Mỹ Tho, Sài Gòn, một loại hình sân khấu mới hình thành vào khoảng cuối thập niên 1910. Nhiều nhà nghiên cứu lấy năm 1918 làm mốc, gắn với các buổi diễn như vở Gia Long tẩu quốc ở Nhà hát Tây Sài Gòn ngày 16 tháng 11 năm 1918 và các vở của gánh Thầy Năm Tú ở Mỹ Tho;…
Nguồn: Báo Tuổi Trẻ, "100 năm cải lương là năm nào?", https://tuoitre.vn/100-nam-cai-luong-la-nam-nao-20180805092151667.htm; Báo Thanh Niên, "Cải lương qua 1 thế kỷ: Buổi đầu cải cách hát ca theo tiến bộ", https://thanhnien.vn/cai-luong-qua-1-the-ky-buoi-dau-cai-cach-hat-ca-theo-tien-bo-185745569.htm
1919

Cao Văn Lầu viết Dạ cổ hoài lang

Khoảng 1918–1919 ở Bạc Liêu, nhạc sĩ Cao Văn Lầu (Sáu Lầu) viết bài Dạ cổ hoài lang. Bài này sau phát triển thành điệu vọng cổ, linh hồn của cải lương và đờn ca tài tử.
Nguồn: Khu lưu niệm nhạc sĩ Cao Văn Lầu, Bạc Liêu
1926

Đạo Cao Đài khai đạo ở Tây Ninh

Ngày 7 tháng 10 năm 1926, một nhóm tín đồ gồm Lê Văn Trung, Phạm Công Tắc, Cao Quỳnh Cư và nhiều người khác ký tờ khai đạo gửi chính quyền Nam Kỳ, chính thức công bố đạo Cao Đài (Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ). Giữa tháng 11 năm đó (rằm tháng 10 năm Bính Dần), đại lễ khai đạo được tổ chức ở chùa Gò Kén, Tây…
Nguồn: Wikipedia tiếng Anh, "Caodaism", https://en.wikipedia.org/wiki/Caodaism; Phatgiao.org.vn, "Chùa Gò Kén đổi thay sau 100 năm", https://phatgiao.org.vn/chua-go-ken-doi-thay-sau-100-nam-d55700.html
1929

Báo Phụ nữ tân văn ra số đầu

Ngày 2 tháng 5 năm 1929, tờ Phụ nữ tân văn ra số đầu ở Sài Gòn. Đây không phải tờ báo phụ nữ đầu tiên (trước đó có Nữ giới chung năm 1918), nhưng là tờ báo phụ nữ ra lâu và có tiếng nhứt thời Pháp thuộc, bàn chuyện nữ quyền, học hành, chữ quốc ngữ, có người đọc tới Trung Kỳ, Bắc Kỳ.
Nguồn: "The First Women's Newspapers in Vietnam", Thư viện ISEAS – Viện Yusof Ishak (Singapore), 30/03/2026, https://www.iseas.edu.sg/library/blog/highlights-happenings/first-womens-newspapers-in-vietnam; Huỳnh Văn Tòng, Lịch sử báo chí Việt Nam từ khởi thủy đến năm 1930.
1939

Huỳnh Phú Sổ khai đạo Phật giáo Hòa Hảo

Ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão (nhằm ngày 4 tháng 7 năm 1939), Huỳnh Phú Sổ, khi đó chưa tới hai mươi tuổi, khai đạo tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay thuộc An Giang). Đạo lấy tên làng làm tên, chủ trương tu tại gia, thờ đơn giản, không cần chùa lớn, nhấn mạnh hiếu nghĩa và giúp người…
Nguồn: Wikipedia tiếng Việt, "Phật giáo Hòa Hảo", https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%ADt_gi%C3%A1o_H%C3%B2a_H%E1%BA%A3o; Wikipedia tiếng Anh, "Huỳnh Phú Sổ", https://en.wikipedia.org/wiki/Hu%E1%BB%B3nh_Ph%C3%BA_S%E1%BB%95
1940

Nam Kỳ khởi nghĩa

Đêm 22 rạng 23 tháng 11 năm 1940, do Đảng Cộng sản Đông Dương tổ chức, cuộc nổi dậy chống chính quyền thuộc địa nổ ra ở nhiều tỉnh Nam Kỳ như Mỹ Tho, Gia Định, Chợ Lớn, Vĩnh Long, Cần Thơ, Bạc Liêu, Rạch Giá. Lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện lần đầu trong cuộc nổi dậy này. Chính quyền Pháp đem quân đàn á…
Nguồn: Wikipedia tiếng Anh, "1940 Cochinchina uprising", https://en.wikipedia.org/wiki/1940_Cochinchina_uprising; Báo Đồng Tháp, "Cờ đỏ sao vàng trong cuộc khởi nghĩa Nam kỳ", https://baodongthap.vn/chinh-tri/202111/ky-niem-81-nam-ngay-nam-ky-khoi-nghia-23-11-1940-23-11-2021-co-do-sao-vang-trong-cuoc-khoi-nghia-nam-ky-939058/index.htm
1944

Louis Malleret khai quật Óc Eo

Năm 1944, nhà khảo cổ người Pháp Louis Malleret tiến hành khai quật cánh đồng Óc Eo dưới chân núi Ba Thê (nay thuộc An Giang), tìm thấy dấu tích nhà sàn, đền tháp, đồ gốm, trang sức vàng và cả đồng tiền La Mã. Từ đó giới khảo cổ đặt tên văn hóa Óc Eo, có niên đại chừng thế kỷ 1 tới thế kỷ 7, gắn với…
Nguồn: Báo Nhân Dân, "Sáng rõ dần văn hóa Óc Eo", https://nhandan.vn/sang-ro-dan-van-hoa-oc-eo-post691138.html; Louis Malleret, L'Archéologie du delta du Mékong, 4 tập, École française d'Extrême-Orient (1959–1963)
1945

Nam Bộ kháng chiến

Đêm 22 rạng sáng 23 tháng 9 năm 1945, quân Pháp bất ngờ nổ súng đánh chiếm các cơ quan của chính quyền cách mạng ở Sài Gòn. Sáng 23 tháng 9, Xứ ủy Nam Bộ họp ở Cây Mai, quyết định kêu gọi kháng chiến, lập Ủy ban kháng chiến Nam Bộ do Trần Văn Giàu làm chủ tịch. Người Sài Gòn, Chợ Lớn dựng chướng ngạ…
Nguồn: "Ngày Nam Bộ kháng chiến (1945)", báo Văn Hóa, 23/09/2026, https://baovanhoa.vn/chinh-tri/ngay-nam-bo-khang-chien-1945-267791.html; Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng (chủ biên), Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, tập 1 (1987).
1949

Nam Kỳ nhập vô Quốc gia Việt Nam

Theo Hiệp định Élysée ký ngày 8 tháng 3 năm 1949 giữa Pháp và cựu hoàng Bảo Đại, Nam Kỳ sẽ được nhập lại với phần còn lại của Việt Nam. Tháng 4, Hội đồng lãnh thổ Nam Kỳ biểu quyết tán thành; tháng 5, Quốc hội Pháp thông qua luật trả Nam Kỳ, ban hành ngày 4 tháng 6 năm 1949. Từ đó Nam Kỳ thôi là thu…
Nguồn: Wikipedia tiếng Anh, "State of Vietnam", https://en.wikipedia.org/wiki/State_of_Vietnam; Wikisource tiếng Việt, "Hiệp định Élysée 1949", https://vi.wikisource.org/wiki/Bi%C3%AAn_d%E1%BB%8Bch:Hi%E1%BB%87p_%C4%91%E1%BB%8Bnh_%C3%89lys%C3%A9e_1949