Âm nhạc
Vọng cổ và Dạ cổ hoài lang
Bản vọng cổ mà người miền Nam ca hoài có gốc từ bài "Dạ cổ hoài lang" (nghe tiếng trống đêm nhớ chồng) của nhạc sĩ Cao Văn Lầu, tức Sáu Lầu, sáng tác ở Bạc Liêu khoảng năm 1918–1919. Bài ban đầu chỉ có nhịp 2, giọng buồn man mác, kể tâm sự người vợ trông chồng đi xa.
Bài lan ra nhanh trong giới đờn ca tài tử rồi được đưa lên sân khấu cải lương đầu những năm 1920. Theo thời gian, người ta kéo dài câu nhạc cho dễ gởi gắm tình cảm: năm 1927 có bài "Tiếng nhạn kêu sương" của Tư Chơi theo nhịp 4; tới khoảng 1934–1938 lên nhịp 8; rồi nhịp 16, nhịp 32 mà ngày nay ca phổ biến nhứt. Tên gọi cũng đổi dần từ "hoài lang" qua "vọng cổ".
Mỗi câu vọng cổ có chỗ để người ca "xuống xề", kéo dài chữ chót cho thấm. Cái hay của vọng cổ là ai cũng có thể đặt lời mới trên nền nhạc cũ, nên tới giờ bài bản vẫn sống khỏe trong quán cà phê đờn ca, đám tiệc và trên sân khấu.
Nguồn: Wikipedia, "Dạ cổ hoài lang" — https://en.wikipedia.org/wiki/D%E1%BA%A1_c%E1%BB%95_ho%C3%A0i_lang ; Hội Âm nhạc TP.HCM, "Bước phát triển và chuyển hóa của bản vọng cổ" — https://hoiamnhactphcm.vn/buoc-phat-trien-va-chuyen-hoa-cua-ban-vong-co-phan-1.html
Góp bởi Ban biên tập · đăng 11/10/2026
Trích dẫn bài này
Nam Kỳ Lục Tỉnh. (2026). Vọng cổ và Dạ cổ hoài lang. Truy cập ngày …, từ https://namkyluctinh.life/van-hoa/vong-co-va-da-co-hoai-lang